English
 
BDLaw >  Hỏi - Đáp
Danh sách câu trả lời

Trả lời:

Theo pháp luật Việt Nam, không có điều luật nào quy định tỉ lệ vốn một nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm giữ trong Công ty bất động sản. Vì vậy, ngài có thể mở Công ty bất động sản 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.

Theo Điều 50 Luật đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư lần đầu tiên tại Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục pháp lý để có được giấy phép đầu tư. Giấy phép đầu tư này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Do vậy, để thành lập Công ty bất động sản 100% vốn nước ngoài, ngài cần có dự án bất động sản rõ ràng.

Căn cứ theo Điều 10 Luật Kinh doanh Bất động sản, một nhà đầu tư nước ngoài được cho phép quản lý công việc kinh doanh bất động sản trong phạm vi như sau:

-          Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;

-          Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng;

Theo Điều 8 Luật Kinh doanh Bất động sản, bất kỳ công ty quản lý kinh doanh bất động sản nảo đều phải có vốn pháp định - vốn nhỏ nhất được pháp luật yêu cầu để thành lập công ty. Điều 3 Nghị định 153/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 10 năm 2007 hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh Bất động sản quy định vốn pháp định là 6 tỷ đồng.

Thêm nữa, đối với từng dự án bất động sản riêng biệt, nhà đầu tư phải đáp ứng đủ các điều kiện về vốn riêng để thực hiện dự án. Đặc biệt là:

-          Đối với dự án trung tâm thành phố mới và những công trình hạ tầng kỹ thuật của khu công nghiệp, vốn riêng không được phép thấp hơn 20% tổng số vốn đầu tư của dự án đó

-          Đối với dự án khu liên hợp nhà ở dân cư, vốn riêng không được phép thấp hơn 15% tổng số vốn đầu tư của dự án đối với khu đất nhỏ hơn 20 hec, và không được phép thấp hơn 20% tổng số vốn đầu tư của dự án đối với khu đất lớn hơn hoặc bằng 20 hec.

 

Trả lời:

Theo Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật thương mại đối với mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, kể từ ngày 01 Tháng 1 năm 2009, Nhà đầu tư là cá nhân, pháp nhân của một Quốc gia hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và trong Điều ước quốc tế đó Việt nam cam kết mở cửa thị trường đối với các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa, có thể áp dụng đối với Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào các hoạt động phân phối.

Công ty nước ngoài mà được cấp phép thực hiện các hoạt động phân phối sẽ được cho phép tiens hành các hoạt động phân phối sau:

- Thực hiện bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền thương mại và đại lý bán hàng đối với hàng hoá kinh doanh sản xuất tại Việt Nam và hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, trừ hàng hoá trong danh mục hàng hoá không được phép phân phối;

- Đối với hàng hóa trong danh mục hàng hoá được phép phân phối theo một lịch trình, công ty vốn nước ngoài được phép thực hiện bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền thương mại và đại lý bán hàng đối vơi hàng hóa theo lịch trình đã quy định.

Công ty nước ngoài được phép bán buôn không được phép trực tiếp bán hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng.

Công ty sở hữu nước ngoài được phép thành lập cơ sở bán lẻ không được phép tiến hành bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ đã được cấp phép. Việc thành lập các cơ sở bán lẻ khác ngoài cơ sỏ bán lẻ đầu tiên được xem xét trên cơ sở từng trường hợp và phụ thuộc vào số lượng các cơ sở bán lẻ, sự ổn định thị trường, mật độ dân số trên địa bàn tỉnh/thành phố nơi có cơ sở bán lẻ được thành lập, và tính thống nhất của dự án đầu tư với quy hoạch của tỉnh/thành phố đó.

 

Nội dung mẫu tiếng việt

Trả lời:

Khoản 1 Điều 81 Nghị định 181/2004/ND-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai (“Nghị định 181”) quy định rằng: “Người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán do người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài thực hiện thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài.” Chính vì vậy, khách hàng mua nhà ở từ dự án của bạn sẽ có quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho dù quyềnử dụng đất của bạn là có thời hạn.

Trong trường hợp khoản tiền trả một lần của bạn ngang bằng với phí sử dụng đất phải trả nếu như quyền sử dụng đất được phân định với việc thu phí sử dụng đất như được quy điịnh tại Khoản 1 Điều 32 của Nghị định 84/2007/ND-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ ban hành quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, bạn và khách hàng của mình sẽ không phải nộp khoản tiền chênh lệch giữa thuê đất và sử dụng đất ổn định và lâu dài. Hơn nữa, theo Khoản 2 Điều 81 Nghị định 181, bạn phải trả cho Nhà nước khoản tiền chênh lệch giữa phí sử dụng đất và tiền thuê đất đã được trả trước đó cho Nhà nước như sau:   

 -          Phí sử dụng đất được tính ở giá đất được đưa ra bởi UBND tỉnh/thành phố tại thời điểm trả tiền chênh lệch.

 -          Đối với biệt thuê, khoản tiền chênh lệch phải được trả tại thời điểm bán biệt thự;

 -          Đối với nhà chung cư, khoản tiền chênh lệch phải được trả tại thời điểm dự án hoàn thành sớm nhất.

 

 
Công ty Luật TNHH BD & Cộng Sự
Luật sư, Tư vấn đầu tư và Sở hữu trí tuệ
  Miễn trừ  |  Sơ đồ website  |  Liên hệ  |  Liên kết  |  BSS  |  BDC  |  Đăng nhập
Copyright 2009 by BDLaw
Tầng 10, toà nhà Anh Minh
36 Hoàng Cầu
Đống đa, Hà Nội
Tel: +84 4 39365956 / 35146772
Fax: +84 4 39365967 / 35146761
Email: hanoi@bdlaw.com.vn